Nước sinh hoạt nhiễm clo dư và kim loại nặng gây hại như thế nào?

Nước có vai trò rất quan trọng trong đời sống con người, là yếu tố không thể thiếu cho sự sống. Tuy nhiên một thực trạng đáng buồn đang diễn ra: Cuộc sống càng hiện đại thì nước sinh hoạt càng ô nhiễm. Tình trạng nước sinh hoạt bị nhiễm Clo dư và kim loại nặng khá cao, hãy cùng tìm hiểu xem chúng gây ra những tác hại gì cho con người nhé.

Nước sinh hoạt nhiễm clo dư

Clo là nguyên tố hóa học có khả năng ăn mòn, độc hại, có màu xanh, vàng lục, khí clo có mùi nghẹt thở và nặng hơn không khí. Clo ở dạng lỏng được trộn vào uống nước và hồ bơi nhằm tiêu diệt vi khuẩn. Tuy nhiên nếu dư thừa nó có thể phản ứng với các chất hữu cơ trong nước để tạo thành các chất gây nguy hiểm.

Theo Tiến sĩ Dr. Joseph M. Price, MD “Clo là kẻ phá hủy lớn nhất và kẻ giết người của thời hiện đại. Nó là một chất độc ngấm ngầm“. Nghiên cứu năm 1992, của các nhà nghiên cứu tại Đại học y Wisconsin ở Milwaukee cho thấy những người thường xuyên uống nước máy có chứa hàm lượng Clo có nguy cơ phát triển bệnh ung thư bàng quang và trực tràng cao hơn so với những người uống nước không có Clo. Nghiên cứu này ước tính rằng có khoảng 9% bệnh nhân ung thư bàng quang và 18% bệnh nhân ung thư trực tràng có liên quan đến việc sử dụng các sản phẩm có chứa Clo. Con số này chiếm đến hơn 20.000 trường hợp mắc bệnh mới mỗi năm.

Nước nhiễm clo và kim loại nặng
Nước nhiễm Clo dư ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe

 

Nước sinh hoạt nhiễm kim loại nặng

Hiện tượng nước sinh hoạt bị nhiễm kim loại nặng thường gặp trong các lưu vực nước gần các khu công nghiệp, các thành phố lớn và các khu vực khai thác khoáng sản.

Kim loại nặng là nguyên tố có khối lượng nguyên tử lớn, một số nguyên tố kim loại nặng có lợi cho cơ thể, nhưng một số nguyên tố kim loại nặng như: Chì, thủy ngân, cadimi, crom, mangan…lại là mối đe dọa lớn cho con người, những nguyên tố này không tham gia hoặc ít tham gia vào quá trình sinh hóa, chúng tích lũy trong cơ thể và gây độc cho cơ thể.

  • Chì (Pb): Nguyên tố chì có độc tính cao đối với sức khỏe của con người, chì gây độc cho hệ thần kinh trung ương, hệ thần kinh ngoại biên, tác động lên hệ enzim có nhóm hoạt động chứa hyđro. Người bị nhiễm chì sẽ bị rối loạn bộ phận tạo huyết (tủy xương). Tuỳ theo mức độ nhiễm chì, người nhiễm có thể bị đau bụng, đau khớp, viêm thận, cao huyết áp, tai biến não, nhiễm chì nặng có thể gây tử vong. Đặc tính nổi bật của chì là sau khi xâm nhập vào cơ thể, nguyên tố này ít bị đào thải ra ngoài mà tích tụ theo thời gian trong cơ thể rồi mới gây độc. WHO quy định tiêu chuẩn tối đa cho phép của nồng độ chì trong nước uống: £ 0,05 mg/ml.
  • Thủy Ngân (Hg): Tính độc của thủy ngân phụ thuộc vào cấu tạo hoá học của nó. Thuỷ ngân là nguyên tố hóa học tương đối trơ. Nguyên tố này dễ bay hơi ở nhiệt độ thường nên nếu hít phải sẽ rất độc.

Thuỷ ngân có khả năng phản ứng với axit amin có chứa lưu huỳnh, các hemoglobin, abumin; chúng có khả năng liên kết màng tế bào, làm thay đổi hàm lượng kali, thay đổi sự cân bằng của axit bazơ trong các mô, làm thiếu hụt năng lượng cung cấp cho tế bào thần kinh. Trẻ em nếu nhiễm độc thuỷ ngân sẽ bị phân liệt, co giật không chủ động. Trong nước sinh hoạt, metyl thủy ngân là dạng độc nhất, nó làm phân liệt nhiễm sắc thể, ngăn cản quá trình phân chia của tế bào. WHO quy định nồng độ tối đa cho phép thủy ngân trong nước uống là 1mg/l; nước nuôi thuỷ sản là 0,5mg/l.

  • Cađimi (Cd): Nguyên tố kim loại Cađimi được sử dụng trong công nghiệp luyện kim, chế tạo đồ nhựa; hợp chất của cađimi được sử dụng để sản xuất pin. Cađimi xâm nhập vào cơ thể người thông qua đường hô hấp, qua thực phẩm. Theo nhiều nghiên cứu cho thấy những người hút thuốc lá có nguy cơ cao bị nhiễm cađimi.

Cadimi khi xâm nhập vào cơ thể được tích tụ ở thận và xương; gây nhiễu loạn hoạt động của một số enzim, gây ra bệnh tăng huyết áp, ung thư phổi, thủng vách ngăn mũi, làm rối loạn chức năng thận, phá huỷ tuỷ xương, gây ảnh hưởng đến nội tiết, máu và tim mạch. WHO quy định tiêu chuẩn nồng độ Cadimi cho nước uống là £ 0,003 mg/l.

  • Crom (Cr): Crom tồn tại trong nước với 2 dạng Cr (III), Cr (VI). Cr (III) không độc nhưng ngược lại Cr (VI) gây độc đối với động thực vật. Với người Cr (VI) có thể gây loét dạ dày, ruột non, viêm gan, viêm thận và gây ung thư phổi.

Crom xâm nhập vào nước sinh hoạt từ các nguồn nước thải của các nhà máy mạ điện, nhuộm, thuộc da, chất nổ, mực in, in tráng ảnh… WHO quy định tiêu chuẩn hàm lượng crom trong nước uống là £ 0,005 mg/l.

  • Mangan (Mn): Mangan là nguyên tố vi lượng, nhu cầu về mangan của con người mỗi ngày khoảng 30 – 50 mg/kg trọng lượng cơ thể. Nếu dùng với hàm lượng lớn mangan dư thừa sẽ gây độc cho cơ thể; gây độc với nguyên sinh chất của tế bào, đặc biệt là tác động lên hệ thần kinh trung ương, gây tổn thương thận, bộ máy tuần hoàn, phổi, ngộ độc nặng mangan có thể gây tử vong. WHO quy định tiêu chuẩn qui định mangan trong nước uống là £ 0,1 mg/l.

Để tìm hiểu thêm về tác hại của việc dùng nước bị ô nhiễm bạn có thể tham khảo tại: http://ews.com.vn/su-dung-nguon-nuoc-nhiem-asen-amoni-nguy-hiem-nhu-the-nao/

tu van giai phap